ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc Hội thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực từ 01/01/2015 (gồm 10 chương, 133 điều)

ĐỀ CƯƠNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

 

I. Sự cần thiết thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Ngày 9 tháng 6 năm 2000 Quốc hội thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Qua gần 13 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Luật bộc lộ không ít hạn chế, bất cập như:

Một là, một số quy định của Luật còn cứng nhắc, chưa tạo được cơ chế pháp lý linh hoạt, phù hợp với tính đa dạng, phong phú về điều kiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình.

Ví dụ: Luật chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất của vợ chồng là chế độ tài sản theo luật định mà không có quy định cho phép vợ chồng được lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận. Cách quy định cứng nhắc như vậy chưa thực sự đảm bảo cho vợ chồng thực hiện được quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt đối với tài sản của mình trước khi kết hôn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên; trong cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng, Luật cũng chỉ mới dự liệu hai giải pháp là hòa giải đoàn tụ và giải quyết cho ly hôn, trong khi trên thực tế, ngoài hai giải pháp này, nhiều cặp vợ chồng lại lựa chọn giải pháp ly thân như là phương thức giải quyết phù hợp đối với tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình của mình, trong đó có những cặp vợ chồng mong muốn việc ly thân của họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Hai là, một số quy định của Luật chưa đảm bảo tính khả thi, nên khó áp dụng trong thực tiễn.

Ví dụ: Luật quy định về việc bắt buộc ghi tên cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn trong thực tiễn thi hành. Trên thực tế, quy định này mới chỉ áp dụng được ở một mức độ nhất định đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở. Với những tài sản khác như xe máy, chứng khoán… thì về cơ bản là chưa thực hiện được.

Ba là, một số quan hệ về hôn nhân và gia đình đã và đang tồn tại trong thực tiễn nhưng chưa được Luật quy định hoặc quy định chưa cụ thể (nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, chung sống giữa những người cùng giới tính, mang thai hộ... ).

Tình trạng này cho thấy, Luật vừa không kịp thời bám sát thực tiễn cuộc sống vừa không bảo đảm được yêu cầu thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về việc cần phải đề cao, tôn trọng và bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân; gây ra không ít khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước đối với các vấn đề nhạy cảm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Bốn là, một số quy định của Luật chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống các văn bản luật có liên quan đã được ban hành như: Luật đất đai; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự; Luật bình đẳng giới; Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình; Luật nuôi con nuôi ...

Những bất cập, hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu cần được sửa đổi một cách toàn diện để vừa giải quyết được những yêu cầu khách quan của đời sống hôn nhân và gia đình, vừa thể hiện được các quan điểm mới của Đảng về việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong đời sống dân sự nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

II. Điểm mới cơ bản giữa Luật HNGĐ năm 2000 và Luật HNGĐ năm 2014

Nội dung

Luật 2000

Luật 2014

Sửa đổi quy định về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình

Không quy định cụ thể việc áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình. Chỉ quy định chung chung: vận động xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ.

Quy định cụ thể việc áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình (Đ7): Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với Luật thì được áp dụng.

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

- Việc quy định chung chung như Luật 2000 tạo nhiều kẽ hở, bất cập, gây khó khăn cho tòa án khi xét xử các vụ án về hôn nhân gia đình, mà phải áp dụng các phong tục tập quán.  

- Việc sửa đổi nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình khi pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận

(MR: Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với nhiều tập quán tốt đẹp, đa dạng, phong phú, nội dung quy định tại Điều 7 thể hiện việc tôn trọng những tập quán tốt đẹp, đồng thời cũng làm rõ điều kiện để tập quán được áp dụng, nhấn mạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Chính phủ sẽ có Nghị định nhằm đảm bảo tính khả thi của quy định này).

Nâng độ tuổi kết hôn

Nữ từ 18 tuổi trở lên, Nam từ 20 tuổi trở lên.

(Vừa bước qua tuổi 18, 20)

Nữ từ đủ 18 tuổi, Nam từ đủ 20 tuổi.

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Quy định nữ là từ 18 tuổi trở lên (vừa bước qua tuổi 18) là không thống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự (theo BLDS 2005: người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý; BLTTDS 2004: đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện.

Không cấm kết hôn đồng giới

Quy định cấm kết hôn đồng giới (nếu vi phạm sẽ có chế tài, xử phạt).

- Bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”.

- Quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (k2 Đ8).

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Luật 2014 không cấm nhưng cũng không thừa nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. (Do vậy, không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; không công nhận thừa kế theo pháp luật; …).

Cho phép mang thai hộ

Không quy định

Chính thức thừa nhận và cho phép mang thai hộ (từ Đ93 đến Đ98).

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Nhằm mục đích nhân đạo (Đi kèm là các điều kiện để có thể thực hiện)

Công việc nội trợ được coi như lao động có thu nhập

Không quy định

Quy định rõ: công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập.

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ khi giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn: phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.

Tài sản của vợ chồng

Quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Quy định cụ thể, rõ ràng hơn.

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Quy định rõ ràng hơn về chế độ sở hữu, thuận tiện trong việc giải quyết khi có tranh chấp; làm giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn.

Thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn

 

Chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn.

NHƯNG có ĐK: một bên v (ch) do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do ch (v) gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

CÓ 1 LƯU Ý: Chồng không có quyền ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng.

 

 

Nghĩa vụ đối với con khi ly hôn

 

V (ch) thỏa thuận về: người trực tiếp nuôi con; nghĩa vụ; quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì TA quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

V (ch) thỏa thuận về: người trực tiếp nuôi con; nghĩa vụ; quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì TA quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Quy định khác

- Quy định nguyên tắc: con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

- Quy định nguyên tắc: con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

- Bổ sung:

+ Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;

+ Quy định về con do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân cũng được luật hóa: con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày (10 tháng) kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân. Nếu cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được tòa án xác định.

Ý nghĩa của việc sửa đổi nội dung này

Góp phần giải quyết được những quan hệ phức tạp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bền vững và hạnh phúc.

 

III. Nội dung chính của Luật HNGĐ năm 2014

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được QH thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực từ 01/01/2015 (gồm 10 chương, 133 điều).

Trước khi đi vào nội dung chính của Luật, cần phân tích làm rõ một số thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong Luật này:

* Câu chuyện:

Sau thời gian dài yêu đương và tìm hiểu nhau, chị A và anh B đã quyết định đến UBND xã ... làm thủ tục đăng ký kết hôn; sau khoảng 15 phút, anh chị vui vẻ ra về với tấm giấy chứng nhận kết hôn màu hồng rất đẹp; từ đây, anh chị nên duyên vợ - chồng. Quan hệ này được gói gọn trong hai từ “Hôn nhân”. Như vậy, thuật ngữ “HN” thật ra được hiểu rất đơn giản đó là chỉ quan hệ vợ và chồng sau khi kết hôn.

Do gia đình bên nội neo người, sau kết hôn, anh A và chị B sống cùng nhà với ông bà; ông bà cũng có nhận nuôi một người cháu; không lâu sau anh chị sinh được 01 người con. Mối quan hệ giữa ông bà nội, cháu, anh A và chị B và người con được gói gọn trong hai từ “Gia đình”. Vậy thuật ngữ “GĐ” trong Luật HN và GĐ được hiểu là: tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng.

Như đã phân tích ở mục II; ngoài những điểm mới cơ bản đã nêu ở trên, một số nội dung cần được nắm rõ trong Luật HNGĐ tại một số chương cụ thể (các chương, điều về quy định chung xin phép không đi vào chi tiết mà lồng ghép trong quá trình trình bày, để tiết kiệm thời gian cũng như tập trung vào các nội dung liên quan đến việc áp dụng trong thực tế):

Thứ nhất: Quy định về điều kiện kết hôn: phải đáp ứng 4 điều kiện:

            Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

            Do nam và nữ tự nguyện quyết định

            Không bị mất năng lực hành vi dân sự

            Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp sau:

 

                    + KH giả tạo, ly hôn giả tạo

                                + Tảo hôn (một bên v/ch hoặc cả 2 bên chưa đến tuổi KH), cưỡng ép KH, lừa dối KH, cản trở HN tự nguyện

                                        

Con sinh ra sk kém, dễ ốm đau

 

 

Khó có cơ hội tìm kiếm VL

 

      

 Bỏ học

 

Nghèo đói

 

 

 

 

 

 

(Xử phạt (NĐ 110/2003/NĐ-CP; 67/2015/NĐ-CP; 167/2013/NĐ-CP):      

1. Hvi tảo hôn, tổ chức tảo hôn: phạt tiền từ 500k – 01triệu.

2. Hvi cố ý duy trì q.hệ vc trái PL với ng chưa đủ tuổi (đã có QĐ của TA buộc end q.hệ): phạt tiền từ 01 triệu đến 03 triệu đồng

                                3. Hvi cưỡng ép KH, lừa dối KH, cản trở HN tự nguyện tiến bộ: phạt cảnh cáo từ 100k-300k).

 

+ Người đang có v/chKH ou chung sống như vc với người khác

+ Chưa có v/ch KH ou chung sống như vc với người

   mình biết rõ đang có ch/v.

+ KH hoặc chung sống như vc giữa những người:                                                         Phạt từ 1tr-3tr

       Cùng dòng máu về trực hệ;                                                                                       nếu vi phạm

       Có họ trong phạm vi ba đời;       (gọi là HN cận huyết thống)                      (NĐ 110/2013/NĐ-CP;

       Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;                                                                 NĐ 67/2015/NĐ-CP)

       Giữa người đã từng:      cha, mẹ nuôi với con nuôi

                                                cha ch với con dâu, mẹ vợ với con rể,

                                                cha dượng với con riêng của vợ,  

                                                mẹ kế với con riêng của chồng;

 

ẢNH MINH HỌA 01

 

ẢNH MINH HỌA 02

 

 

 

 

ẢNH MINH HỌA 03: TRỰC HỆ, CÓ HỌ TRONG PHẠM VI 03 ĐỜI

 

                                                         (Trẻ sinh ra thường dị tật, quái thai)

 

 

Thứ hai: Quy định về đăng ký kết hôn

  Luật HNGĐ quy định việc kết hôn phải được đăng kýdo cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn lại.

MR: câu hỏi đặt ra là cơ quan nào có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký kết hôn? thủ tục đăng ký kết hôn thực hiện ntn?

Trả lời:

                    Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn (K1 Đ17 Luật hộ tịch)

            Thủ tục đăng ký kết hôn:

- Hai bên nam, nữ nộp Tờ khai đăng ký kết hôn (mẫu) cho công chức tư pháp hộ tịch (yêu cầu: cùng có mặt khi thực hiện thủ tục đăng ký).

- Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn (như đã trình bày ở trên) thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ (nội dung này thực tế rất ít khi thực hiện).

- Trong một vài trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

          Thứ ba: quy định về chế độ tài sản của vợ chồng (từ Đ28 đến Đ50) cần nắm rõ một số quy định sau đây:

                 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa

 lao động trong gia đìnhlao động có thu nhập (K1 Đ29)

  

 

         

Ví dụ: phụ nữ ở nhà nội trợ,                   ví dụ: người làm công ăn lương; người đi làm          

      chăm sóc con cái                               ngoài và kiếm thêm thu nhập cho người khác.

                       

              Thực hiện giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng: Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.

            Quy định về tài sản của vợ, chồng:

         Tài sản chung của vợ chồng: 

           (1) Tài sản do vợ, chồng tạo ra.

           (2) Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức

phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân.

                 

 

Trừ trường hợp: khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng (trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác). Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung.

 Ví dụ cho nội dung này: Chị Hoa và anh Hùng cưới nhau. Trước khi cưới, chị Hoa có một cửa hàng bán hoa tươi (giả sử trị giá 300 triệu đồng); sau khi cưới, cửa hàng vẫn hoạt động với doanh thu một năm là 300 triệu đồng/năm. Gỉa sử anh chị có thỏa thuận chia tài sản là hoa lợi và lợi tức phát sinh mỗi năm từ tài sản riêng của chị Hoa thì:     

 

 

 

 

 

 

 

        Trích 200 tr đem chia                                                 Giữ lại 100 tr

 

  

Anh Hùng

100 tr

 

Chị Hoa

100 tr

 

 

 

 

 

                    
                     Tài sản riêng của mỗi người                                                              Tài sản chung của vợ chồng

  (3) TS mà vc được thừa kế, tặng cho chung.

  (4) TS khác mà vc thỏa thuận là TS chung.

  (5) Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Lưu ý: Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

 

          √ Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

   + Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản.

+ Văn bản thỏa thuận phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

            + Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định.

* Quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu: thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Việc chia TS ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

- Việc chia TS nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

            Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;                           

            Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

            Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định pháp luật.

 

√ Quy định liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng:

* Tài sản riêng của vợ, chồng gồm:

+ Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;

+ Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;

+ Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng

+ Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

+ Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định hiện hành.

* Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

+ Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

 

 

(Lưu ý: việc nhập TS riêng vào TS chung được thực hiện theo thỏa thuận của vc (nội dung cơ bản của thỏa thuận được quy định tại Đ48 Luật HNGĐ; nội dung đã thỏa thuận vẫn có thể sửa đổi, bổ sung); trong một vài trường hợp, pháp luật quy định giao dịch liên quan TS đó phải tuân theo 1 hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó).

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

+ Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Thứ tư, quy định về ly hôn (từ Đ51 đến Đ64):

√ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.

√ Ai có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn?

Đó là:            Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng

                       Cha, mẹ, người thân thích khác       (Luật HNGĐ 2000: v, ch hoặc cả 2 vc mới có quyền)

                       (Điều kiện: khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ).

Lưu ý: Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

√ Cơ quan nào thực hiện (có thẩm quyền) giải quyết ly hôn? Giải quyết như thế nào đối với trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn?

           Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn.

           Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn

thì Tòa án:            Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn.

                              Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng

                              * Nếu có yc giải quyết về TS: xử lý theo thỏa thuận.   

                                               (K thỏa thuận được thì giải quyết theo BLDS và vbpl có liên quan khác)

                               * Nếu có yc giải quyết về con: quyền và nghĩa vụ giữa  

                              nam nữ chung sống với nhau như vc và con thực hiện     

                              theo Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con 

                                                                                                         (trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục).  

√ Các trường hợp ly hôn (thuận tình ly hôn và ly hôn theo yc của 1 bên)

          Thuận tình ly hôn:         vc tự nguyện và cùng yêu cầu ly hôn

                 (Tòa công nhận thuận tình LH)                Đã thỏa thuận việc chia ts và con

                                                                      (Việc thỏa thuận đã bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con)

         Lưu ý:  - Không thỏa thuận

            - Có thỏa thuận nhưng                                          Tòa giải quyết LH

              k bảo đảm quyền lợi chính đáng cho vợ, con

            Ly hôn theo yêu cầu của 1 bên:

           Tòa án giải quyết cho LH trong trường hợp:

                             V or ch yêu cầu LH; TA hòa giải k thành.

                             (nếu có căn cứ về: v or ch có hành vi BLGĐ; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ

                              của v or ch ảnh hướng đến đời sống hôn nhân …)

                      V or ch của người bị TA tuyên bố mất tích yêu cầu LH

                        Cha, mẹ, người thân thích của 1 trong hai bên v or ch yêu cầu

                      (nếu có căn cứ về: v or ch có hành vi BLGĐ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính

                              mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia)

              Hôn nhân chấm dứt do v, ch die hoặc bị TA tuyên bố là đã die:

        * Xác định thời điểm:         hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm v or ch die

                                                      hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày die được ghi  

                                                                     trong bản án/quyết định của TA.

        * Giải quyết TS:

         - Bên còn sống ql TS chung của vc (trừ trhợp có di chúc)

         - Khi có yc về chia di sản:       TS chung chia đôi (trừ trhợp có thỏa thuận)

                                                         Phần của ng die/ng bị TA tuyên bố die: chia  

                                                          theo quy định PL về thừa kế.

Lưu ý: trong trhợp chia di sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đs của v/ch còn sống và gđ thì v/ch còn sống có quyền yc TA hạn chế phân chia di sản theo quy định của BLDS.

 

       * Quy định khác:          

- Quan hệ nhân thân: khi TA ra QĐ hủy bỏ tuyên bố 1 ng đã die; v/ch của ng đó:

  Chưa kết hôn với ng khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ

   thời điểm kết hôn.

  Đã kết hôn với ng khác thì quan hệ hôn nhân này vẫn có hiệu lực pl.

              Đã có QĐ ly hôn của TA thì QĐ ly hôn vẫn có hiệu lực.

          - Quan hệ TS: được giải quyết như sau:

              Trhợp hôn nhân được khôi phục: quan hệ TS được khôi phục kể từ thời

             điểm QĐ của TA hủy bỏ tuyên bố v/ch đã die có hiệu lực.

            (Riêng TS do v/ch có được kể từ thời điểm QĐ của TA về tuyên bố v/ch đã chết có hiệu lực

                 đến khi QĐ của TA hủy bỏ tuyên bố v/ch đã die có hiệu lực là TS riêng của v/ch còn sống).

            Trhợp hôn nhân không được khôi phục: TS có được trước khi  QĐ của

             TA về việc tuyên bố v/ch đã die có hiệu lực mà chưa chia được giải

              quyết như chia tài sản khi ly hôn.

 

Thứ năm, quan hệ giữa cha mẹ và con (từ Đ68 đến Đ102)

Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình.

Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Quy định về quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục …

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra.

Con có quyền có TS riêng (thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi lợi tức phát sinhtừ TS riêng của con, …); con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đs chung của gia đình, đóng góp vào việc đáp ưng nhu cầu thiết yếu của gia đình  nếu có thu nhập.

Quản lý TS riêng của con:

- Con dưới 15 tuổi; con mất nl hvi dân sự:        Do cha mẹ quản lý.

                                                                               Cha mẹ UQ cho ng khác qlý.

- Con từ đủ 15 tuổi trở lên:            Tự mình quản lý

                                                                 Nhờ cha mẹ quản lý

- TS của con đã có ng giám hộ quản lý (theo quy định của BLDS ou ng tặng cho TS, để lại TS theo TK cho con đã chỉ định ng giám hộ) thì cha mẹ không được quản lý TS riêng đó của con.

- Tr hợp con chưa thành niên, con đã thành niên nh mất nl hvi dân sự mà được giao cho ng khác giám hộ thì TS riêng của con được giao lại cho ng giám hộ.

Định đoạt TS riêng của con:

- Con dưới 15 tuổi: cha mẹ và người giám hộ quản lý TS riêng của con có quyền định đoạt vì lợi ích của con (nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con).

- Con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt TS riêng (trừ TS là BĐS, động sản thì phải có sự đồng ý bằng VB của cha mẹ/người giám hộ).

Cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp:

Bị kết án về các tội xâm phạm đến con

Phá tán TS của con

Có lối sống đồi trụy

Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái PL, trái đạo đức XH

(Việc hạn chế quyền do TA quyết định)

Về xác định cha, mẹ, con: cần lưu ý một số nội dung sau:

Con chung của vc:  + Con sinh ra trong tk hôn nhân

                                            + Con sinh ra do v có thai trong tk hôn nhân (kể cả tr. hợp con dc sinh ra  

                                          trong thời hạn 300 ngày kể từ tđ end HN).

                                            + Con sinh ra trước ngày ĐK KH và được cha mẹ thừa nhận (tr. hợp cha  

                                          mẹ k thừa nhận thì phải có chứng cứ và phải được TA xác định).

 

                            Con đã thành niên nhận cha k cần ok của mẹ (nhận mẹ k cần ok của cha).            

              Người đang có vợ, ch mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

     

      Con sinh ra trong tr. hợp mang thai hộ vì mđ nhân đạo là con chung của vc nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm  

       con được sinh ra. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ, con 

       giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với ng con được sinh ra.

              

     Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự  nguyện của các bên và được lập thành văn bản có công chứng. (chi tiết tại các Điều từ 95 đến 101 của Luật và NĐ10/2015/NĐ-CP, NĐ 98/2016/NĐ-CP)./.

Viết bình luận

Xem thêm tin tức